Nhằm chào mừng kỉ niệm ngày 81 năm ngày thành lập Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh, sáng ngày 13/05/2022, Liên đội trường Tiểu học Vạn Thọ 1 đã tổ chức hội thi "Rung chuông vàng". Hội thi đã tạo điều kiện để các đội viên nâng cao kiến thức về tổ chức Đội; giáo dục học sinh biết quý trọng
HƯỚNG DẪN HỌC SINH HỌC VÀ LÀM TỐT BÀI THI MÔN LỊCH SỬ. Đăng lúc: Thứ sáu - 06/11/2015 08:18. / HƯỚNG DẪN HỌC SINH PHƯƠNG PHÁP HỌCVÀ LÀM BÀI THI MÔN LỊCH SỬ. 1. Hướng dẫn HS phương pháp học Lịch sử. - GV có thể đưa ra một số phương pháp sau: + Niềm đam mê là yếu tố rất cần thiết khi bạn muốn học tốt môn Lịch sử.
Từ lâu, môn Lịch sử vô tình bị coi là môn phụ trong chương trình dạy học ở Tiểu học. Mặc dù chủ trương của nhà nước chưa bao giờ gắn cho nó vị trí "môn phụ" nhưng trên thực tế, việc dạy học môn này đã không được quan tâm đúng mức. Làm thế nào để có thể khơi gợi được hứng thú với môn
Tôi nhận thấy việc sử dụng phương pháp hướng dẫn học sinh tự học ở nhà trong môn Lịch sử là rất cần thiết, giải quyết được những vấn đề đã nêu. 1930 ở trường THPT Như Xuân 2 thông qua việc hướng dẫn học sinh tự học", để tải tài liệu gốc về máy bạn
Chương trình Lịch sử lớp 4 giúp học sinh có những kiến thức cơ bản, thiết thực về những sự kiện, nhân vật lịch sử tiêu biểu, phản ánh những vấn đế về sự phát triển các giai đoạn lịch sử, những thành tựu trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc ta khoảng 700 năm trước Công Nguyên
. Ngày đăng 22/12/2019, 1706 Việc tự học có thể là tự học trên lớp cũng có thể là tự học ở nhà, song sáng kiến này thì chủ yếu là nhấn mạnh đến việc vận dụng một số biện pháp hướng dẫn tự học lịch sử ở nhà, tức là thực hiện những nhiệm vụ học tập được giáo viên phân công để chuẩn bị cho việc tìm hiểu bài mới. Sáng kiến muốn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tự học ở nhà của học sinh đối với việc phát huy năng lực học sinh trong giờ học và nâng cao hiệu quả giờ học. TÓM TẮT SÁNG KIẾN Tăng cường sử dụng biện pháp hướng dẫn tự học lịch sử theo hướng phát huy lực học sinh vấn đề cần đặc biệt trọng dạy học lịch sử Dạy học – tự học quan điểm, phương pháp dạy học mà nhiều nước giới tăng cường áp dụng rộng rãi, phần khơng thể thiếu giáo dục đại Tuy nhiên Việt Nam việc sử dụng biện pháp hướng dẫn tự học theo lối hạn chế Dựa sở lí luận thực trạng việc sử dụng biện pháp hướng dẫn tự học lịch sử theo hướng phát huy lực học sinh dạy học lịch sử nay, sáng kiến cụ thể hóa số biện pháp hướng dẫn tự học lịch sử nhà trường trung học phổ thông Việc tự học tự học lớp tự học nhà, song sáng kiến chủ yếu nhấn mạnh đến việc vận dụng số biện pháp hướng dẫn tự học lịch sử nhà, tức thực nhiệm vụ học tập giáo viên phân công để chuẩn bị cho việc tìm hiểu Sáng kiến muốn nhấn mạnh tầm quan trọng việc tự học nhà học sinh việc phát huy lực học sinh học nâng cao hiệu học MƠ TẢ SÁNG KIẾN Hồn cảnh nảy sinh sáng kiến Hiện nay, giáo dục nước ta tích cực đổi theo hướng phát huy lực người học, tức hướng tới “hoạt động học tập chủ động, sáng tạo , chống lại thói quen học tập thụ động” học sinh Lịch sử mơn học có vị trí quan trọng việc giáo dục toàn diện nhân cách cho học sinh THPT, cần tích cực đổi để phát huy hiệu giáo dục mơn Trong q trình dạy học, việc giảng dạy giáo viên việc học tập học sinh hai khâu trình thống Hoạt động tự học học sinh khâu quan trọng trình dạy học , nhiệm vụ bắt buộc học sinh Tự học hoạt động độc lập học sinh diễn lớp nhà để hoàn thành nhiệm vụ giao hướng dẫn, giúp đỡ kiểm tra giáo viên Hoạt động tự học có hướng dẫn giáo viên với phương pháp phù hợp mang lại hiệu cao cho việc dạy học nói chung dạy học mơn lịch sử nói riêng Tuy nhiên khả tự học học sinh hạn chế, đa số em học lịch sử cách thụ động theo kiểu ghi chép học thuộc lòng, từ dẫn đến kiến thức lịch sử học sinh không đa dạng, không sâu sắc, nhiều mơ hồ, xáo rỗng Các học lịch sử sách giáo khoa nặng nội dung, nhiều học dài có giảm tải Với thời lượng 45 phút cho tiết học, học sinh khơng có chuẩn bị trước, đọc trước SGK trước đến lớp học trơi qua nặng nề, giáo viên học sinh cảm thấy vất vả việc truyền thụ lĩnh hội kiến thức Làm để giảm áp lực cho học sinh trình học Lịch sử, để học sinh dễ dàng ghi nhớ, nhanh chóng nắm bắt kiến thức học, đồng thời có thời gian để phân tích, thảo luận từ nắm kiến thức cách đầy đủ, sâu sắc hơn? Đây câu hỏi mà nhiều giáo viên dạy lịch sử trăn trở Xuất phát từ tình hình thực tế vậy, tơi nhận thức sâu sắc tầm quan trọng việc đổi phương pháp dạy học cho học sinh tìm thấy hứng thú học, phát huy tính chủ động sáng tạo em tìm hiểu học lịch sử, bớt áp lực phải học thuộc lòng kiến thức có sách giáo khoa, đồng thời giáo viên bớt áp lực phải truyền thụ lượng kiến thức nặng nề học dẫn đến tình trạng dạy học theo kiểu“cưỡi ngựa xem hoa” Chính tơi lựa chọn nghiên cứu vấn đề“Một số biện pháp hướng dẫn tự học lịch sử theo hướng phát huy lực học sinh nhằm nâng cao hiệu học lịch sử trường THPT Cơ sở lí luận Sự phát triển kinh tế - xã hội bối cảnh tồn cầu hố đặt u cầu người lao động, đặt yêu cầu cho nghiệp giáo dục hệ trẻ đào tạo nguồn nhân lực Một định hướng việc đổi giáo dục chuyển từ giáo dục mang tính hàn lâm, kinh viện, xa rời thực tiễn sang giáo dục trọng việc hình thành lực hành động, phát huy tính chủ động, sáng tạo người học Định hướng quan trọng đổi PPDH phát huy tính tích cực, tự lực sáng tạo, phát triển lực hành động, lực cộng tác làm việc người học Đó xu hướng quốc tế cải cách PPDH nhà trường phổ thơng Nghị Hội nghị Trung ương khóa XI đổi bản, toàn diện giáo dục đào tạo nêu rõ “Tiếp tục đổi mạnh mẽ phương pháp dạy học theo hướng đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo vận dụng kiến thức, kỹ người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo sở để người học tự cập nhật đổi tri thức, kỹ năng, phát triển lực Chuyển từ học chủ yếu lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, ý hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin truyền thông dạy học” Để thực tốt mục tiêu đổi bản, toàn diện GD&ĐT theo Nghị số 29-NQ/TW, cần có nhận thức chất đổi phương pháp dạy học theo định hướng phát triển lực người học số biện pháp đổi phương pháp dạy học theo hướng Môn lịch sử trường phổ thông cung cấp cho học sinh kiến thức khoa học lịch việc dạy học lịch sử không phụ thuộc vào phương pháp giảng dạy giáo viên mà phụ thuộc vào phương pháp học học sinh Học tập lịch sử không để “biết” mà phải “tường” tức hiểu cách cặn kẽ, hiểu “gốc tích” để hiểu Như học lịch sử, người học không dừng lại việc ghi nhớ kiện, mà điều quan trọng phải hiểu chất kiện, tượng rút quy luật, học kinh nghiệm khứ với tại, đồng thời nhìn nhận, đánh giá xu hướng phát triển tương lai Để phát huy vai trò môn lịch sử phát triển xã hội, cần phải định hướng học từ bỏ lối suy nghĩ “Lịch sử môn học đơn cần nhớ kiện”, trình dạy học giáo viên không cung cấp kiến thức mà cần trọng hướng dẫn học sinh phương pháp học tập đắn, phương pháp tự học, tự lĩnh hội kiến thức làm tảng để sâu phân tích, so sánh, liên hệ rút học, quy luật Nhìn giới đặc biệt nước khu vực Đơng Nam Á thấy xu hướng đa số nước trọng đến cách học phương pháp nhiều “Học gì” Nội dung Trong cách học, họ đề cao hai điều then chốt Tự học sáng tạo Hai mặt có quan hệ mật thiết Sẽ khơng có sáng tạo khơng có tự học tích cực Tự học để khám phá nhận thức khai phá sáng tạo Sáng tạo để khẳng định hiệu tự học Các giáo dục tiên tiến cho tự học sáng tạo hai kĩ “kép” cần thiết học sinh đại Đây thực vấn đề cần quan tâm hàng đầu trình thực đổi phương pháp dạy học Việt Nam Tăng cường hướng dẫn học sinh tự học, nhằm phát huy lực sáng tạo bước quan trọng q trình thực mơ hình dạy học tích cực “ Lấy người học làm trung tâm” hay gọi mơ hình dạy – tự học Thực trạng vấn đề Qua thực tế giảng dạy lịch sử, nhận thấy, học sinh phổ thông phần lớn học lịch sử theo lối thụ động - Ở lớp nghe giảng, phát biểu ý kiến giáo viên yêu cầu, sử dụng sách giáo khoa để trả lời câu hỏi giáo viên Trong việc ghi bài, học sinh không chủ động ghi chép theo mức độ nhận thức vấn đề thân mà thường thụ động ghi chép theo giáo viên trình bày bảng đen trình chiếu - Ở nhà học thuộc lòng nội dung ghi vở, số học sinh học thuộc lòng kiến thức sách giáo khoa - Học sinh khơng có thói quen đọc trước khai thác kiến thức sách giáo khoa trước tìm hiểu học lớp Có thể nói, học sinh học lịch sử hoàn toàn phụ thuộc kiến thức sách giáo khoa, học sinh tự mở rộng kiến thức lịch sử mà dừng mức độ theo dõi sách giáo khoa, ghi nhớ kiến thức có sách giáo khoa, kiến thức giáo viên ghi chép bảng Với cách học lịch sử thụ động dẫn đến thực tế phổ biến học sinh phổ thông em thường ghi nhớ lâu kiện lịch sử, ghi nhớ không hiểu sâu sắc chất, ý nghĩa tác động kiện lịch sử Thực trạng học sinh học lịch sử thụ động nhiều nguyên nhân - Thứ cách dạy giáo viên nhiều giáo viên áp dụng phương pháp dạy học truyền thống, trọng vào việc cung cấp kiến thức sách giáo khoa, tâm lí sợ khơng dạy hết kiến thức sách giáo khoa đeo bám dẫn đến học giáo viên chưa tổ chức nhiều hoạt động thảo luận, phân tích giúp học sinh hiểu sâu sắc chất, ý nghĩa kiện lịch sử đưa nhận xét, đánh giá theo quan điểm cá nhân - Quan niệm sai lệch “mơn chính”, “ mơn phụ” nên nhiều học sinh coi thường, chưa thực chủ động sâu tìm tòi, nghiên cứu - Nội dung chương trình lịch sử phổ thơng biên soạn nặng nội dung, dẫn đến lớp giáo viên vất vả việc giúp học sinh khai thác, lĩnh hội kiến thức sách giáo khoa - Do nội dung chương trình chưa hấp dẫn học sinh giáo viên ơm đồm nhiều kiến thức, làm cho nội dung dạy trở nên tải với học sinh, dẫn đến học sinh sợ học môn - Do cách đề kiểm tra, đánh giá nặng tái kiến thức, nên học sinh cần thuộc bài, cần bám sát kiến thức sách giáo khoa thực yêu cầu đề Cách đề nặng học thuộc vô hình chung hình thành học sinh lối “ học vẹt” chưa biết cách khai thác vấn đề theo tư duy, logic thân Một số biện pháp hướng dẫn tự học lịch sử theo hướng phát huy lực học sinh nhằm nâng cao hiệu học lịch sử trường THPT Sử dụng phiếu học tập để hướng dẫn học sinh tự học Phiếu học tập phác thảo, định hướng cơng việc học sinh thực lớp nhà có thể thực theo nhóm cá nhân tùy theo phân cơng hướng dẫn giáo viên Hình thức phiếu học tập đa dạng, giáo viên thiết kế câu hỏi, tập, bảng biểu, sơ đồ, đề cương trống để học sinh trả lời, trình bày, xếp thơng tin, điền phần thiếu qua hình thành kiến thức phát triển kĩ định cho học sinh Phiếu học tập không công cụ hỗ trợ hiệu cho việc triển khai dạy học lớp mà phù hợp với việc hướng dẫn học sinh tự học nhà để chuẩn bị cho Việc hướng dẫn học sinh tự học với sách giáo khoa sưu tầm, khai thác tư liệu liên quan đến học trước bước vào học việc làm cần thiết nên triển khai thường xuyên quy định bắt buộc học Sử dụng phiếu học tập hướng dẫn học sinh tự học nhà chuẩn bị cho học lịch sử, giáo viên thiết kế phiếu học tập khơng định hướng nhiệm vụ học sinh cần làm đọc, tóm tắt nội dung học, ghi rõ nội dung chưa hiểu mà quan trọng hết phải định hướng cho học sinh ôn tập lại kiện, khái niệm học có liên quan bổ trợ cho học Việc đọc trước khai thác kiến thức sách giáo khoa theo định hướng, sưu tầm, khai thác tư liệu có liên quan đến học từ nguồn sách báo, mạng Internet giúp cho học sinh dễ dàng thu nhận kiến thức mới, đồng thời học sinh có sở liệu để tham gia chia sẻ, thảo luận, phân tích sâu kiện, vấn đề Để tránh gây áp lực cho học sinh, khiến học sinh cảm thấy nặng nề, căng thẳng với việc chuẩn bị nhà giáo viên ý thiết kế phiếu học tập ngắn gọn, học sinh hồn thành nhanh vòng từ 10 đến 15 phút nội dung chủ yếu nhắm đến việc tái kiến thức, tóm tắt nội dung, tiến trình u cầu học sinh tự học giáo viên không thời gian dạy lại lớp Khi việc tự học nhà giúp học sinh tự lĩnh hội kiến thức bản, lớp giáo viên dành phần nhiều thời gian cho việc đặt tình có vấn đề để học sinh vận dụng kiến thức bản, tư giải vấn đề Ví dụ dạy lịch sử lớp 10 Giáo viên thiết kế phiếu học tập giúp học sinh chuẩn bị trước học với yêu cầu hoàn thiện bảng hệ thống đặc điểm quốc gia cổ đại phương Đông phương Tây Bảng Dựa vào SGK để hoàn thiện bảng hệ thống đặc điểm quốc gia cổ đại phương Đông Đặc điểm Điều kiện tự nhiên hình thành Thời gian địa điểm Kinh tế Xã hội Thể chế trị Các quốc gia cổ đại phương Đông Khi học – lịch sử 10 Các quốc gia cổ đại phương Tây Giáo viên thiết kế phiếu học tập dạng kết hợp ôn tập kiến thức cũ khai thác trước kiến thức mới, đồng thời phát huy lực so sánh rút nhận xét học sinh Bảng So sánh đặc điểm quốc gia cổ đại phương Đông phương Tây, rút nhận xét Đặc điểm Các quốc gia cổ Các quốc gia cổ Nhận xét đại phương Đông đại phương Tây Điều kiện tự nhiên Thời gian địa điểm hình thành Đặc điểm kinh tế Cơ cấu xã hội Thể chế trị Phiếu học tập với bảng so sánh sử dụng vào cuối học 4, để củng cố, khắc sâu kiến thức cho học sinh quốc gia cổ đại phương Đơng phương Tây, ngồi sử dụng phiếu học tập giao cho học sinh trước học 5, để học sinh nắm vững kiến thức thời kì cổ đại, phục vụ cho việc so sánh, đánh giá trình phát triển xã hội phương Đông từ cổ đại chuyển sang thời kì phong kiến Ví dụ dạy 19 – lịch sử 10 Các kháng chiến chống ngoại xâm kỉ X – XV Giáo viên thiết kế phiếu học tập để học sinh tìm hiểu khai thác sách giáo khoa trước học sau Bảng Hồn thiện số thơng tin kháng chiến chống ngoại xâm kỉ X – XV Đặc điểm Kháng chiến Kháng chiến Kháng chiến Khởi nghĩa chống Tống chống Tống chống quân Lam Sơn thời Tiền Lê thời Lý xâm lược Mông – Nguyên Thời gian Người lãnh đạo chủ yếu Kế sách độc đáo Những trận đánh tiêu biểu Kết - ý nghĩa Ví dụ học 30 – lịch sử 10 Chiến tranh giành độc lập thuộc địa Anh Bắc Mĩ Giáo viên yêu cầu học sinh đọc sách giáo khoa hoàn thiện bảng hệ thống tiến trình chiến tranh nhà trước học Bảng Tiến trình chiến tranh giành độc lập thuộc địa Anh Bắc Mĩ Thời gian Sự kiện Kết 1773 9/1774 4/1775 5/1775 4/7/1776 17/10/1777 1781 Khi học sinh chủ động đọc sách giáo khoa hoàn thiện bảng tiến trình phát triển chiến tranh giành độc lập, học sinh 10 Với sơ đồ tư dạng này, giáo viên phần gợi ý cho học sinh số lượng đơn vị kiến thức cần xác định sơ đồ tư Hình thức sử dụng phổ biến thường xuyên, phù hợp vừa sức với đa số học sinh Khi vào dạy mới, giáo viên giới thiệu vẽ chủ đề học lên bảng hình vẽ bảng lớp mà khơng ghi theo kiểu cũ, sau GV triển khai học theo nhánh sơ đồ tư duy, học sinh với việc đọc sách giáo khoa thiết lập sơ đồ tư trước tìm hiểu chắn sôi nổi, hào hứng tham gia xây dựng nội dung học Việc phát triển học sơ đồ tư không tạo cho học sinh áp lực ghi chép nhiều học lịch sử Đối với học sinh lớp 12, việc tự ơn tập sơ đồ tư giúp em ghi nhớ khắc sâu kiến thức, điều góp phần nâng cao hiệu kì thi THPT Quốc gia Hướng dẫn học sinh thiết kế, sử dụng Thẻ nhớ hay Phiếu nhớ để phục vụ có hiệu cho học lịch sử Thẻ nhớ hay phiếu nhớ Flash Cards loại công cụ học tập thiết kế in rời dạng văn nhằm hỗ trợ học sinh việc ghi nhớ nhân vật, kiện, khái niệm lịch sử cách logic Nội dung thẻ nhớ thường có hai phần Hình ảnh nhân vật hình ảnh liên quan đến kiện, khái niệm lịch sử, thông tin gợi mở nhằm định hướng cho học sinh việc tìm hiểu, ghi nhớ thông tin nhân vật, kiện phục vụ cho học Có nhiều mẫu thẻ nhớ để học sinh lựa chọn thiết kế phù hợp với việc trình bày nội dung kiến thức Hiện áp dụng công nghệ thông tin việc dạy học trở nên phổ biến hỗ trợ hiệu giáo viên hướng dẫn học sinh sử dụng phần mềm thông dụng Word hay Publisher 15 để thiết kế thẻ, phần mềm quen thuộc, dễ học phát huy lực sử dụng công nghệ thông tin vào học tập môn lịch sử Bước đầu hướng dẫn học sinh tự học với thẻ nhớ, giáo viên thiết kế thẻ nhớ có sẵn hình nhân vật, kiện u cầu học sinh hồn thiện thơng tin nhân vật, kiện Ví dụ trước học 31 tiết 1 – lịch sử 10 Cách mạng tư sản Pháp cuối kỉ XVIII Giáo viên sử dụng thẻ nhớ Cũng giống phiếu học tập có tranh tình cảnh nơng dân Pháp trước cách mạng đặt câu hỏi Bức tranh phản ánh điều xã hội Pháp trước cách mạng? Giáo viên yêu cầu học sinh hoàn thiện thẻ nhớ nộp lại để giáo viên chấm sử dụng làm tư liệu phục vụ học Ví dụ giáo viên sử dụng thẻ nhớ Chùa cột để phát huy lực tự học học sinh lớp, việc học sinh điền thông tin thẻ nhớ Chùa cột thể kiến thức bên sách giáo khoa học sinh phong phú ………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………… 16 ………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………… Bức tranh phản ánh điều xã hội Pháp trước cách mạng? ……………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………… 17 ……………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………… Trình bày hiểu biết em cơng trình kiến trúc Trước học, giáo viên yêu cầu học sinh dựa vào thông tin sách giáo khoa sưu tầm thêm để tự thiết kế thẻ nhớ nhân vật, kiện lịch sử, cơng trình kiến trúc, điêu khắc Ví dụ -dạy lịch sử 10 tranh độc lập G trước Oa - sinh tơn sinh30 –trong gia Chiến đình điền chủgiành giàu có bang Viếccác –githuộc địaTừAnh Bắctuổi,ơng Mĩ tốt nghiệp đại học kĩ sư Oa – sinh- tơn ni-a nămở 16 Một nhân vật có viênquân thiết dân kế thẻ nhớ nhân vật –gi-ni-a G Oa – sinh mộtGiáo sĩ quan độiyêu cầu thamhọc giasinh hội đồng biểu củavềbang ảnhViếc hưởng vô Tháng 9/1774, ông đạivề diện tham dự đại hội lục thứsinh Hợp đến thángquốc 5/1775 tiếp tochúng lớn – tơn thẻ nhớ Bản Tuyên ngôn độcđịa lậplần khai Mĩông chiến tranh cử tham đạiPublisher hội lục địa lần thứ hai, Phi –la-đen-phi-a, ônggiành cáctục phần mềm Wordgia độc lập 13 bang bầuVí làm chỉsinh huy cóquân đội thuộc Từ sau bầu làm giản tổngBắc huy, thuộc địa Mĩ ông dụtổng học thể làm thẻ nhớ vậtkhi hoàn chỉnh đơn sau thể vai trò người huy quân đội xuất sắc, quân đội thuộc địa liên tiếp giành chiến thắng lớn trước quân 18 Anh Sau thuộc địa Bắc Mĩ hoàn toàn giành độc lập, năm 1789 G Oa-sinh-tơn trở thành tổng thống nước Mĩ, ông ba vị tổng thống vĩ đại lịch sử nước Mĩ Những thẻ nhớ học sinh thiết kế, học sinh hồn thiện thơng tin thiết kế giáo viên trở thành tài sản, thành kho liệu học sinh Học sinh tập hợp thẻ nhớ lại để phục vụ cho học khác nhau, phục vụ cho việc ôn tập kiến thức học sinh Hướng dẫn học sinh tự học thông qua thực nhiệm vụ sưu tầm tư liệu, tranh ảnh phục vụ học Trước học, việc giao nhiệm vụ học tập phát huy lực tự học với sách giáo khoa, giáo viên nâng cao hiệu học lịch sử thông qua việc phân công cho học sinh nhiệm vụ sưu tầm tư liệu, hình ảnh liên 19 quan đến học, bổ trợ đắc lực cho việc phân tích hiểu sâu sắc học Nhất với mà kiến thức có nhiều nội dung cần mở rộng việc giao cho học sinh sưu tầm tư liệu liên quan biện pháp giáo viên định hướng cho học sinh tự bồi dưỡng, tự mở rộng kiến thức lịch sử Ví dụ trước dạy liên quan đến chiến thắng quân lớn ta kháng chiến chống Pháp chống Mĩ, giáo viên nên giao cho học sinh sưu tầm tư liệu nghệ thuật tác chiến ta chiến dịch, phần kiến thức khó Trên sở học sinh sưu tầm, tìm hiểu em tích cực phát biểu phân tích, xây dựng học Hoặc tìm hiểu Chiến tranh giành độc lập thuộc địa Anh Bắc Mĩ, giáo viên nên phân công cho học sinh nhiệm vụ học tập nhà sưu tầm tư liệu hồn ảnh đời, tác giả, sở lí luận, điểm tích cực, hạn chế Bản Tuyên ngôn độc lập nước Mĩ Thực tế cho thấy học sinh có chuẩn bị trước học cách chu đáo, nghiêm túc học, học sinh chủ động học tập, học với giáo viên không đơn cung cấp kiến thức mà trở thành học chia sẻ, trao đổi, thảo luận sâu phân tích số vấn đề trọng tâm qua khắc sâu kiến thức cho học sinh Thực nghiệm sử dụng biện pháp hướng dẫn tự học lịch sử theo hướng phát huy lực học sinh nhằm nâng cao hiệu học lịch sử trường THPT Nội dung thực nghiệm Bài 30“Chiến tranh giành độc lập thuộc địa Anh Bắc Mĩ” Lớp 10- chương trình chuẩn - Chuẩn bị giáo án kiểu Kiểu 1 Giáo án thực nghiệm, có sử dụng biện pháp hướng dẫn tự học Kiểu 2 Giáo án đối chứng soạn giảng dạy theo phương pháp bình thường khơng sử dụng biện pháp hướng dẫn tự học 20 - Kiểm tra chất lượng cách cho học sinh hai lớp đối chứng thực nghiệm làm kiểm tra nhanh phiếu phản hồi ý kiến học sinh sau tiết học Q trình thực nghiệm Chúng tơi chọn lớp thực nghiệm lớp đối chứng + Lớp thực nghiệm sử dụng giáo án kiểu 1, sử dụng biện pháp hướng dẫn tự học lịch sử nhằm hỗ trợ hoạt động học tập lớp học sinh + Lớp đối chứng sử dụng giáo án kiểu tiến hành theo phương pháp bình thường, khơng sử dụng biện pháp hướng dẫn học sinh tự học, nhiệm vụ chuẩn bị trước học + Lớp thực nghiệm đối chứng tương đồng nhận thức điều kiện học tập Tiến trình học đối chứng Chúng tiến hành dạy đối chứng lớp 10C, triển khai dạy theo kế hoạch dạy thông thường Vào học, giáo viên giới thiệu nội dung kiến thức học, tổ chức triển khai hoạt động để nghiên cứu, tìm hiểu nội dung học phương pháp dạy bình thường thuyết trình, vấn đáp, trực quan, sử dụng câu hỏi tập lịch sử Cuối học, giáo viên tổng kết học giao nhiệm vụ nhà Trước kết thúc học, giáo viên yêu cầu học sinh làm tập trắc nghiệm nhanh khoảng thời gian 10 phút để kiểm tra mức độ đạt mục tiêu học em Tiến trình học thực nghiệm Giờ học thực nghiệm tiến hành lớp 10A, giáo viên triển khai sử dụng biện pháp hướng dẫn tự học như 21 - Yêu cầu học sinh đọc kĩ sách giáo khoa hoàn thiện phiếu học tập hệ thống tiến trình diễn biến Cuộc chiến tranh giành độc lập thuộc địa Anh Bắc Mĩ - Yêu cầu học sinh sưu tầm tư liệu Tuyên ngôn độc lập 4/7/1776 tuyên bố khai sinh nhà nước Hợp chúng quốc Mĩ theo nội dung cụ thể Tác giả, nội dung chính, sở tư tưởng, tích cực hạn chế Tun ngơn, liên hệ đến Bản Tuyên ngôn độc lập nước ta ngày 2/9/1945 Trong học giáo viên không cần sâu hỏi học sinh kiện tiến trình diễn biến chiến tranh mà chủ yếu sâu phân tích kiện tiêu biểu Giáo viên tích cực tổ chức hoạt động học tập, đặt câu hỏi mà đòi hỏi học sinh phải vận dụng tư liệu sưu tầm để trả lời Ví dụ Giáo viên yêu cầu học sinh đọc đoạn tiêu biểu Tuyên ngôn mà em sưu tầm, yêu cầu học sinh trình bày hiểu biết nhân vật G, Oa – sinh – tơn, giáo viên đặt câu hỏi để học sinh liên hệ đến Tuyên ngôn độc lập nước ta, học sinh hiểu Hồ Chí Minh lại trích dẫn Bản Tun ngơn độc lập nước Pháp nước Mĩ Tuyên ngôn khai sinh nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Kết thúc học giáo viên cho học sinh làm kiểm tra nhanh 10 phút để kiểm tra kết học tập Kết thực nghiệm * Kết định tính qua quan sát lớp học Tiết dạy thực nghiệm lớp 10A, 10B Với việc sử dụng biện pháp hướng dẫn học sinh tự học làm bật kiến thức trọng tâm mà học sinh cần nắm vững Tại lớp thực nghiệm khơng khí lớp học sôi nổi, học sinh vô hứng thú với phương pháp học tập mới, học sinh tham gia nhiệt tình, khơng khí 22 học thoải mái, học sinh tích cực tham gia chia sẻ kiến thức mà em tự sưu tầm, tìm hiểu làm cho học trở nên sinh động, hút Tại lớp đối chứng Với việc sử dụng phương pháp dạy học truyền thống đảm bảo đầy đủ nội dung kiến thức Nhưng khơng khí lớp học có phần sôi nổi, học sinh chủ yếu làm việc cá nhân, có tương tác với giáo viên có tương tác thành viên lớp với Giờ học chưa thực thu hút, chưa phát huy tính độc lập, sáng tạo học sinh *Mức độ hứng thú học sinh Qua phiếu điều tra để thu thập ý kiến học sinh, kết sau Lớp dạy thực nghiệm 84% học sinh cho khơng khí học diễn sôi nổi, cảm thấy hào hứng Ngược lại, lớp dạy đối chứng, có 37% số học sinh đồng ý với ý kiến buổi học diễn sôi nổi, hào hứng Lớp học đối chứng Giáo viên giảng dạy theo giáo án truyền thống phương pháp thuyết trình, vấn đáp chủ yếu, khơng khí lớp học từ đầu đến cuối trầm Các em thực chăm chép bài, có số em tích cực tham gia trả lời câu hỏi giáo viên Lớp học thực nghiệm với việc sử dụng biện pháp hướng dẫn tự học kết hợp với PPDH tích cực khác, học sinh tỏ hứng thú với giảng, tập trung vào giảng tham gia tích cực trả lời câu hỏi giáo viên đưa Như vậy, khẳng định việc sử dụng tăng cường biện pháp hướng dẫn học sinh tự họctrong dạy học Lịch sử tạo hứng thú tập trung cho học sinh học với giáo án thông thường Đồng thời, học sinh tiếp thu kiến thức học nhanh vững Biểu đồ thể mức độ hứng thú HS lớp thực nghiệm đối chứng 23 Lớp thực nghiệmLớp đối chứng * Kết định lượng qua kiểm tra 10 phút Sau hoàn thành hai dạy thực nghiệm đối chứng, cho học sinh làm kiểm tra 10 phút thu kết sau Bảng thống kê kết kiểm tra 10 phút dạy học thực nghiệm đối chứng Điểm số Lớp thực nghiệm Số học sinh Tỷ lệ % Lớp đối chứng Số học sinh Tỷ lệ % 39HS 100% 37HS 100% Điểm giỏi 23 60,0 10 27 Điểm 11 28,2 18 48,6 Điểm TB 11,8 24,4 Điểm 0 0 - Giờ dạy thực nghiệm số học sinh đạt điểm giỏi chiếm tới 60 %, gấp lần so với lớp đối chứng Từ kết sau hai học thực nghiệm đối chứng khẳng định ưu hiệu việc tăng cường biện pháp hướng dẫn tự học học lịch sử Khả áp dụng sáng kiến - Các biện pháp hướng dẫn tự học lịch sử sáng kiến triển khai áp dụng rộng rãi cho nhiều đối tượng học sinh, nhiều khối lớp khác 24 - Sáng kiến áp dụng linh hoạt điều kiện sở vật chất khác Giáo viên áp dụng sáng kiến cho tất học, cần ý linh hoạt lựa chọn biện pháp hướng dẫn xác định trọng tâm hướng dẫn học sinh tự học - Sáng kiến góp phần nâng cao hiệu việc rèn cho học sinh kĩ tự học với sách giáo khoa, kĩ đọc sách xác định vấn đề nhanh, kĩ sử dụng công nghệ thông tin học tập môn lịch sử, kĩ sưu tầm tư liệu lịch sử, học sinh có hứng thú học Riêng với học sinh lớp 12, học mới, hay ôn tập kiến thức để thi THPT Quốc gia theo hình thức thi trắc nghiệm việc tăng cường áp dụng biện pháp hướng dẫn học sinh tự học vô cần thiết nâng cao hiệu kì thi THPT Quốc gia KẾT LUẬN - KHUYẾN NGHỊ Kết luận Bản chất việc đổi phương pháp giáo dục lấy người học làm trung tâm, phát huy cao độ tính tự giác, tích cực, độc lập, sáng tạo người học, điều có nghĩa phát huy lực tự học học sinh 25 Để phát huy tính chủ động, sáng tạo học sinh giáo viên cần nhận thức rõ ràng mối quan hệ Tự học sáng tạo, từ tăng cường biện pháp hướng dẫn học sinh tự học Đối với mơn lịch sử việc áp dụng biện pháp hướng dẫn học sinh tự học cách đa dạng, giảm áp lực ghi chép, học thuộc cho học sinh chắn tạo hứng thú cho học sinh học nâng cao hiệu dạy học môn Trong thực tế nay, nhiều học sinh, sinh viên học tập lịch sử cách thụ động Học thụ động, đơn nhớ kiến thức cách máy móc mà chưa rèn luyện kỹ năng, học sinh học biết đấy, cô lập nội dung mơn, phân mơn mà chưa có liên hệ kiến thức với mà chưa phát triển tư logic tư hệ thống Việc hướng dẫn học sinh tự học cách linh hoạt, phù hợp với học, đối tượng học sinh đòi hỏi giáo viên phải có đầu tư nghiên cứu kĩ định hướng cho học sinh nhiệm vụ tự học cụ thể, từ mong phát huy lực học sinh, nâng cao hiệu học Khuyến nghị Đổi PPDH nói chung việc tăng cường sử dụng biện pháp hướng dẫn học sinh tự học nói riêng dạy học Lịch sử trường THPT yêu cầu cần thiết cấp bách nay, có đổi PPDH theo hướng tích cực hố hoạt động học sinh hồ nhập trình độ phổ thơng khu vực giới Để tạo điều kiện cho đổi PPDH nói chung PPDH mơn Lịch sử nói riêng đạt hiệu cao Bản thân tơi có kiến nghị sau -Tăng cường trang sở vật chất, thiết bị cho việc dạy học môn Lịch sử - Cung cấp đầy đủ đồ dùng trực quan phục vụ giảng dạy môn 26 - Đầu tư xây dựng phòng học mơn, để triển khai áp dụng nhiều phương pháp dạy học mang tính đặc thù mơn - Nhà trường tạo điều kiện phối hợp tổ chức hoạt động học tập lịch sử di tích, di tích lịch sử địa phương - Khuyến khích, động viên giáo viên tích cực tự học để nâng cao trình độ chun mơn, đổi phương pháp dạy học - Đối với sáng kiến kinh nghiệm có tính khả thi cơng bố rộng rãi, in thành tài liệu để nhiều giáo viên chia sẻ, áp dụng, nhận rộng hiệu sáng kiến TÀI LIỆU THAM KHẢO liệu đổi phương pháp dạy học môn Lịch sử trung học phổ thông tài liệu tham khảo Bộ Giáo dục Đào tạo pháp dạy học mơn Lịch sử theo hướng tích cực Nhà xuất Đại học sư phạm 27 giáo khoa, sách giáo viên lớp 10 chương trình chuẩn Nhà xuất Giáo dục Ngọc Liên, Trần Văn Trị chủ biên, Phương pháp dạy học Lịch sử , NXB Giáo dục năm 1998 Đức Lâm 2006, Phương pháp ghi nhớ nhanh, Nhà xuất Lao động – Xã hội Phan Ngọc Liên chủ biên 2008 , Đổi nội dung phương pháp dạy học lịch sử trường phổ thông, Nxb ĐHSP Hà Nội Phan Ngọc Liên Chủ biên 2002, Phương pháp dạy học Lịch sử tập I, Nxb Đại học Sư phạm Phan Ngọc Liên Chủ biên 2002, Phương pháp dạy học Lịch sử tập II, Nxb Đại học Sư phạm Vũ Quang Hiển – TS Hoàng Thanh Tú, Phương pháp dạy học môn Lịch sử trường Trung học phổ thông, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội MỤC LỤC TÓM TẮT SÁNG KIẾN .1 MÔ TẢ SÁNG KIẾN Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến 2 Cơ sở lí luận 3 Thực trạng vấn đề .5 Một số biện pháp hướng dẫn tự học lịch sử theo hướng phát huy lực học sinh nhằm nâng cao hiệu học lịch sử trường THPT Sử dụng phiếu học tập để hướng dẫn học sinh tự học Sử dụng sơ đồ tư phát huy lực tự học học sinh 14 28 Hướng dẫn học sinh thiết kế, sử dụng Thẻ nhớ hay Phiếu nhớ để phục vụ có hiệu cho học lịch sử .15 Hướng dẫn học sinh tự học thông qua thực nhiệm vụ sưu tầm tư liệu, tranh ảnh phục vụ học 19 Thực nghiệm sử dụng biện pháp hướng dẫn tự học lịch sử theo hướng phát huy lực học sinh nhằm nâng cao hiệu học lịch sử trường THPT 20 Nội dung thực nghiệm 20 Quá trình thực nghiệm 21 Khả áp dụng sáng kiến 24 KẾT LUẬN - KHUYẾN NGHỊ 25 TÀI LIỆU THAM KHẢO 27 MỤC LỤC .28 29 ... học lịch sử Khả áp dụng sáng kiến - Các biện pháp hướng dẫn tự học lịch sử sáng kiến triển khai áp dụng rộng rãi cho nhiều đối tượng học sinh, nhiều khối lớp khác 24 - Sáng kiến áp dụng linh hoạt... học phổ thông, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội MỤC LỤC TÓM TẮT SÁNG KIẾN .1 MÔ TẢ SÁNG KIẾN Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến 2 Cơ sở lí luận 3 Thực trạng vấn đề...MƠ TẢ SÁNG KIẾN Hồn cảnh nảy sinh sáng kiến Hiện nay, giáo dục nước ta tích cực đổi theo hướng phát huy lực người học, tức hướng tới “hoạt động học tập chủ động, sáng tạo , chống lại - Xem thêm -Xem thêm SKKN “Một số biện pháp hướng dẫn tự học lịch sử theo hướng phát huy năng lực học sinh nhằm nâng cao hiệu quả giờ học lịch sử ở trường THPT”.,
SKKN Một số biện pháp dạy môn Lịch sử lớp 5 theo hướng phát triển năng lực giúp học sinh yêu thích môn học Lịch sử I. PHẦN MỞ ĐẦU Lý do chọn đề tài Tiểu học là cấp học nền tảng đặt cơ sở ban đầu cho việc hình thành và phát triển toàn diện nhân cách của con người, đặt nền tảng vững chắc cho giáo dục phổ thông và cho toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân. Việc dạy học lịch sử nói riêng cũng như dạy học các môn học khác vấn đề là phải giúp người học lĩnh hội được kiến thức, giáo dục đạo đức và hình thành nhân cách cho học sinh. Trong những năm qua việc thực hiện chương trình, sách giáo khoa mới cũng như việc đổi mới phương pháp dạy học đã khẳng định rõ hơn vai trò của người học. Trong việc đổi mới, cải tiến phương pháp dạy và học, việc phát huy tính tích cực của học sinh có ý nghĩa quan trọng. Bởi vì xét cho cùng công việc giáo dục phải được tiến hành trên cơ sở tự nhận thức, tự hành động. Giáo dục phải được thực hiện thông qua hành động và bằng hành động của bản thân tư duy và thực tiễn. Sinh thời Bác Hồ đã nói “Dân ta phải biết sử ta, Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam” Vì đã là người Việt Nam thì dù ở đâu cũng phải biết lịch sử của nước nhà và đó cũng chính là đạo lí “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc ta. Nhưng thực tế việc dạy và học môn Lịch sử chưa đạt hiệu quả như mong muốn bởi còn gặp một số khó khăn. Từ đó trong những năm gần đây qua thực tế ở nhà trường tôi nhận thấy hầu như các em học sinh chưa nhận thức được tầm quan trọng của môn Lịch sử, các em còn coi nhẹ môn học này. Đặc biệt đây cũng là tiền đề vững chắc để các em học lên các cấp học trên. Vì thế trong quá trình công tác và tình hình thực tế, tôi nhận thấy ngay từ cấp tiểu học chúng ta phải gây hứng thú học môn Lịch sử mà đi đến chủ động, sáng tạo yêu thích học môn học này. Lịch sử có vai trò quan trọng như vậy, nhưng thực tế hiện nay một số học sinh không có hứng thú khi học môn học này, dẫn đến chất lượng giờ lịch sử còn hạn chế. Với mong muốn góp phần nhỏ bé của mình vào việc phát triển nhân cách cho các em học sinh, đồng thời nâng cao năng lực sư phạm của bản thân, tôi mạnh dạn chọn môn Lịch sử để nghiên cứu. Đó cũng chính là lí do tôi chọn đề tài “Một số biện pháp dạy môn Lịch sử lớp 5 theo hướng phát triển năng lực giúp học sinh yêu thích môn học Lịch sử”. Nhằm làm cho việc học tập của học sinh trở nên lý thú, gắn bó với thực tiễn. Để phát huy tính tích cực chủ động, sáng tạo, thay đổi thói quen học tập thụ động, ghi nhớ máy móc của học sinh. Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài. Mục tiêu –Nghiên cứu, áp dụng tìm ra một số biện pháp nhằm gây hứng thú cũng như phát huy tính tích cực của học sinh đồng thời nâng cao chất lượng trong dạy học môn Lịch sử ở bậc Tiểu học. -Lịch sử lớp 5 được dạy ở trường Tiểu học nhằm cung cấp cho học sinh một số kiến thức cơ bản, thiết thực về Các sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử tiêu biểu ở các giai đoạn phát triển của lịch sử Việt Nam từ năm 1858 tới nay. Bước đầu hình thành và rèn luyện cho học sinh các kĩ năng Quan sát sự vật, hiện tượng, thu thập, tìm kiếm tư liệu lịch sử từ các nguồn khác nhau. Nêu thắc mắc, đặt câu hỏi trong quá trình học tập và chọn thông tin để giải đáp. Phân tích, so sánh, đánh giá các sự vật, sự kiện, hiện tượng lịch sử. Vận dụng các kiến thức đã học vào thực tiễn đời sống. Góp phần bồi dưỡng và phát triển ở học sinh những thái độ và thói quen Ham học hỏi, ham hiểu biết thế giới xung quanh. Yêu thiên nhiên, con người, đất nước. Có ý thức hành động và bảo vệ thiên nhiên và các di sản văn hoá. Nhiệm vụ -Xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài. -Điều tra và khảo sát tình hình và chất lượng học tập của học sinh. -Đề ra biện pháp có hiệu quả giúp học sinh học tốt môn Lịch sử. Đối tượng nghiên cứu. -Đề tài nghiên cứu trong phạm vi học sinh khối lớp 5 Trường Tiểu học …………. Năm học 2015-2016. -Nghiên cứu các biện pháp giúp học sinh học tốt môn Lịch sử ở Tiểu học. Giới hạn phạm vi nghiên cứu. –Đề tài xoay quanh việc nghiên cứu giảng dạy và học tập với việc tìm tòi và áp dụng thực nghiệm đưa ra một số biện pháp từ kinh nghiệm giảng dạy qua nhiều năm công tác để giúp học sinh Tiểu học nói chung cũng như học sinh Trường Tiểu học ………… nói riêng học tốt môn Lịch sử. Phương pháp nghiên cứu. -Phương pháp trò chuyện với giáo viên và học sinh -Phương pháp thu thập và xử lí số liệu -Phương pháp thực nghiệm -Phương pháp điều tra, khảo sát. PHẦN NỘI DUNG Cơ sở lí luận. -Học sinh Tiểu học hồn nhiên, ngây thơ, trong sáng, hiếu động thích tò mò, khám phá, làm việc độc lập theo hướng tích cực của mình. Nhưng khả năng nhớ lâu, xâu chuỗi, hệ thống kiến thức của các em còn mang tính hình thức. Theo thống kê hàng năm của bộ giáo dục và đào tạo thì chất lượng bài thi môn Lịch sử ở các cấp còn thấp. Các em thường nhầm lẫn kiến thức Lịch sử với những nội dung cơ bản nhất. Vậy câu hỏi đặt ra nguyên nhân là do đâu ? Có lẽ vấn đề này chúng ta cũng không nên đổ lỗi cho một cấp học nào nhưng thực tế điều đáng nói là những kiến thức cơ bản các em cũng không nắm được. Môn Lịch sử vốn có vị trí, ý nghĩa quan trọng đối với việc giáo dục thế hệ trẻ. Từ những hiểu biết về quá khứ, học sinh hiểu rõ về truyền thống dân tộc, tự hào với những truyền thống, với những thành tựu dựng nước và giữ nước của tổ tiên, xác định nhiệm vụ trong hiện tại, có thái độ đúng với sự phát triển của tương lai. Song làm thế nào để các em làm được điều đó là vấn đề cốt lõi mà bản thân mỗi giáo viên cần quan tâm. -Xuất phát từ mục tiêu giáo dục đã được Đảng và nhà nước xác định, hoàn chỉnh, bổ sung qua các thời kì, chúng ta cần chú trọng đến quan điểm là đào tạo thế hệ trẻ thành người lao động làm chủ nước nhà. Là người có trình độ cơ bản, đáp ứng những yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội, những người thông minh, sáng tạo, có phẩm chất đạo đức, tư tưởng tốt … Con người phải được rèn luyện qua quá trình đào tạo và tự đào tạo. Hiện nay, trong quá trình dạy học trên lớp, hoạt động trí tuệ chủ yếu của học sinh là ghi nhớ và tái hiện. Ở nhà, học sinh tự học dưới dạng học bài và làm bài…nhưng về căn bản đã được hướng dẫn ở lớp, nên hoạt động trí tuệ của học sinh vẫn nặng về rèn luyện trí nhớ và khả năng tái hiện. Như vậy, rèn luyện năng lực tư duy, khả năng tưởng tượng, sáng tạo phát triển trí tuệ, trí thông minh của học sinh nói chung, được xem là nhiệm vụ chủ yếu, nhiệm vụ quan trọng nhất của quá trình dạy học hiện đại. Vì vậy, then chốt của việc đổi mới phương pháp dạy học là điều chỉnh mối quan hệ giữa tái hiện và sáng tạo, đến việc tăng cường các phương pháp sáng tạo nhằm đổi mới tính chất hoạt động nhận thức của học sinh trong quá trình dạy học. Đây cũng là vấn đề nhức nhối cho những người làm công tác giáo dục nói chung và những giáo viên trực tiếp giảng dạy nói riêng. Thực trạng. -Chương trình lịch sử lớp 5 tập trung cung cấp cho các em về một số sự kiện, hiện tượng lịch sử và một số nhân vật lịch sử theo từng mốc giai đoạn thời gian 1858- 1945 Hơn 80 năm chống thực dân pháp xâm lược; 1945- 1954 Bảo vệ chính quyền non trẻ, trường kì kháng chiến chống thực dân pháp; 1954- 1975 Xây dựng chủ nghĩa xã hội miền Bắc, đấu tranh thống nhất đất nước; 1975- nay Xây dựng chủ nghĩa xã hội trong cả nước. -Tuổi trẻ bây giờ được sinh ra và lớn lên trong thời bình, dường như các em chưa quan tâm nhiều đến lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của cha ông ta. Các em chưa biết quan tâm nhiều đến việc tìm tòi, nghiên cứu nguồn sử liệu về lịch sử. Ở trường tiểu học các em chỉ dành nhiều thời gian, tâm sức cho môn Toán và môn Tiếng Việt. Vậy làm thế nào để nâng cao chất lượng của môn Lịch sử ? Đó là nỗi lo âu, trăn trở của mỗi chúng ta khi giảng dạy môn học này. -Học sử không phải để nhồi nhét vào trí nhớ một cách vô cảm những sự kiện, con số, ngày tháng, mà học sử để sống và rung động với sự kiện lịch sử. Học sử để rút ra những bài học về nhân văn, về lòng yêu nước, theo phương châm học để hiểu và hành như câu nói của Bác “ Dân ta phải biết sử ta, cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam. -Thực tế hiện nay một số giáo viên vẫn còn coi nhẹ, chưa dành những quan tâm xứng đáng cho tiết dạy lịch sử, một số học sinh không có hứng thú khi học môn này dẫn đến chất lượng giờ học lịch sử còn hạn chế. lợi – khó khăn. Thuận lợi Trường Tiểu học ………… đóng trên địa bàn trung tâm xã …………, đường sá đi lại tương đối thuận tiện, 100% học sinh là con em tại địa phương, là một xã tương đối lớn. Số lượng trẻ em tương đối đông là nguồn nhân lực dồi dào cho lực lượng lao động trong tương lai nhưng đồng thời cũng đặt ra những thử thách về giáo dục, chăm sóc và tạo điều kiện thuận lợi phát triển cho trẻ. Sự phát triển kinh tế, xã hội của cả nước nói chung, trên địa bàn xã nhà nói riêng trong những năm qua đã tạo tiền đề quan trọng thúc đẩy, nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, thu hút được sự tham gia tích cực của hầu hết cơ quan Đảng, chính quyền, các tổ chức đoàn thể xã hội. Các chủ trương, đường lối về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của Đảng và nhà nước được cụ thể hóa. Điều kiện sức khỏe và thể chất trẻ em ngày càng được cải thiện và nâng cao. Số học sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn từng bước được quan tâm. Bên cạnh đó nhà trường cũng đã chú trọng đầu tư trang thiết bị phục vụ cho công tác dạy học như Tranh ảnh, máy chiếu, máy vi tính …Đội ngũ giáo viên nhiệt tình, tâm huyết với nghề nghiệp. -Được sự quan tâm tạo điều kiện giúp đỡ của Ban Giám Hiệu nhà trường, của các đồng chí, đồng nghiệp và đặc biệt là sự nổ lực của bản thân trong quá trình nghiên cứu. Khó khăn –Học sinh trường Tiểu học ………… chủ yếu là con em dân tộc thiểu số, tầm nhận thức còn hạn chế, gia đình học sinh chủ yếu làm nghề nông, đời sống nơi đây còn gặp nhiều khó khăn, số học sinh thuộc diện hộ nghèo chiếm khá đông, sự quan tâm của phụ huynh còn sơ sài, chưa thiết thực. Thiếu sân chơi bổ ích cho trẻ, trình độ dân trí còn thấp điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến việc học tập của học sinh. –Đồ dùng dạy học tuy được cải thiện song vẫn còn thiếu như băng hình đặc biệt là tư liệu Lịch sử còn hạn chế. Môi trường học Lịch sử còn nghèo nàn làm cản trở cho việc lôi cuốn học sinh trong việc yêu thích môn Lịch sử. Các em chưa biết quan tâm nhiều đến việc tìm tòi, nghiên cứu nguồn sử liệu về lịch sử. Trong học tập các em chủ yếu dành nhiều thời gian, tâm sức cho môn Toán và môn Tiếng Việt. -Từ những nguyên nhân trên đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng giờ dạy, không gây hứng thú cho học sinh và đặc biệt là tư duy trong học tập của các em bị hạn chế. Thành công – hạn chế +Thành công -Qua việc đổi mới phương pháp dạy học phù hợp với từng đối tượng, nội dung bài học. Học sinh hiểu bài nhanh hơn, nắm kiến thức lâu hơn, các em đã tích cực vân dụng được các kiến thức vào bài học, thực hành. Các em hứng thú và thích học môn Lịch sử hơn trong học tập. –Các biện pháp, giải pháp mà tôi áp dụng cho đề tài đã qua thực nghiệm và khảo sát nên mang lại hiệu quả của giáo dục khá cao. Và được sự đồng tình, ủng hộ của cán bộ, giáo viên nhà trường về những đề xuất của đề tài. +Hạn chế -Xuất phát từ quy luật nhận thức của con người phải đi từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn chỉnh đến hoàn chỉnh… -Song bên cạnh đó do học sinh là con em nông thôn nên trong quá trình thực hiện ban đầu có phần hạn chế vì đồ dùng dạy học chưa phong phú. Đa số các em chưa yêu thích môn học này. -Từ những vấn đề nêu trên tôi thấy về trình độ nhận thức của học sinh hiện nay chưa cao, các em tuy nhạy bén với cái mới nhưng các em chóng quên, nếu không thường xuyên được củng cố, luyện tập thì hiệu quả đạt không cao trong học tập. Thời gian không chỉ dành riêng cho môn Lịch sử, trong quá trình nghe giảng học sinh chưa biết chọn lọc, kết hợp với ghi chép chi tiết những điều cần nhớ, tốc độ viết còn chậm, khả năng tiếp thu và thâu tóm vấn đề còn hạn chế. Mặt mạnh – mặt yếu +Mặt mạnh -Đa số giáo viên có tâm huyết với nghề, có hiểu biết sâu sắc về bộ môn và có tay nghề cao, vẫn có nhiều giờ dạy giỏi, phản ánh được tinh thần của xu thế mới. Mặc dù phần lớn giáo viên phải sống và giảng dạy trong điều kiện còn khó khăn, nhưng nét nổi bật là đều có tinh thần trách nhiệm cao, bám lớp, bám trường. -Học sinh Tiểu học hiện nay có trí thông minh khá nhạy bén, sắc sảo, óc tưởng tượng khá phong phú đó là tiền đề tốt cho việc phát triển nâng cao tư duy trong học tập. -Bản thân tôi là giáo viên có thời gian công tác giảng dạy đã lâu năm, nên kinh nghiệm giảng dạy khá phong phú, vì thế việc tìm ra biện pháp để phục vụ cho đề tài là tương đối thuận lợi. Các biện pháp mà tôi đưa ra đã được thực nghiệm tại trường Tiểu học ………… mang lại hiệu quả khá cao. Không những thế lại nhiệt tình trong công tác, có chí cầu tiến thích khám phá, tìm hiểu. Bên cạnh đó học sinh rất thích cái mới, cái lạ và thích khám phá tìm hiểu thế giới xung quanh. Chuyên môn tổ chức nhiều chuyên đề, phương pháp đặt ra nhằm nâng cao chất lượng dạy học. Ngoài ra nhà trường cũng như Liên đội thường tổ chức một số cuộc thi như Nhà sử học nhỏ tuổi, em yêu Tổ quốc Việt Nam… Đã mang lại hiệu quả cao trong công tác dạy học Lịch sử, không những thế qua những hình ảnh trực quan như tên đường, tên trường, tên chi đội .. cũng gắn liền với nhân vật lịch sử, vì thế thông qua đó các em đã hiểu được phần nào về lịch sử nước nhà, những vấn đề đó cũng góp phần không nhỏ đến sự thành công của đề tài. +Mặt yếu -Trong quá trình dạy học, một số giáo viên chưa đổi mới phương pháp dạy học, dạy học còn theo kiểu truyền thống, giáo viên thiên về giảng giải, truyền thụ, thậm chí nhồi nhét kiến thức, học sinh lắng nghe một cách thụ động, ghi nhớ máy móc. Chính vì thế nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy, hình thức chuyển tải, truyền đạt…làm thế nào cho phù hợp với từng đối tượng học sinh, với tâm sinh lí lứa tuổi là điều quan trọng. Nhưng nhìn chung chưa mang lại hiệu quả cao do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan. Cụ thể học sinh cũng như phụ huynh chưa quan tâm đến nhiều môn học này. -Để gây hứng thú học tập và giúp học sinh có khả năng nhớ lâu, hệ thống kiến thức tốt giáo viên cần đầu tư và đưa công nghệ thông tin bài giảng điện tử vào trong dạy học thì hiệu quả đạt cao hơn. Các nguyên nhân, các yếu tố tác động đến đề tài -Học Lịch sử là quá trình nhận thức những điều đã diễn ra trong quá khứ của xã hội để hiểu về hiện tại và chuẩn bị cho tương lai. Khi nghiên cứu các hiện tượng tự nhiên người ta có thể trực tiếp quan sát chúng trong thiên nhiên hoặc trong phòng thí nghiệm nhưng đối với học sinh vùng nông thôn như trường tôi thì điều đó quá xa vời. Các em chủ yếu chỉ tái tạo Lịch sử qua lời kể của thầy cô giáo, qua tưởng tượng điều đó ảnh hưởng đến sự lĩnh hội kiến thức lịch sử bị hạn chế. -Phương pháp dạy học ít đổi mới của giáo viên cũng ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình tiếp thu bài của học sinh. Học sinh chưa coi trọng môn lịch sử như Toán hay Tiếng Việt nên đầu tư cho môn học này còn ít. -Thực tế chất lượng học sinh trong lớp chưa thực sự đồng đều một số em còn xem nhẹ môn học này. Hơn nữa thời gian học tập các môn học với lượng kiến thức nhiều nên việc học Lịch sử đối với các em chưa thực sự chú trọng. Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt ra. -Thực trạng cho thấy, đầu năm học khi tôi nhận lớp, chỉ có khoảng hơn 60% học sinh hứng thú, thích học môn Lịch sử. -Trước khi thực hiện đề tài này, trong lớp có 18/29 HS yêu thích, hứng thú học môn Lịch sử. chiếm 62%. 5/29 HS học vì yêu cầu của thầy cô,chiếm 17%. 6/29 HS chưa hứng thú học môn lịch sử, chiếm 21%. -Như vậy qua tìm hiểu thực trạng chúng ta nhận thấy rằng có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinh ngại học Lịch sử nhưng theo tôi phải thẳng thắn nhìn nhận rằng -Phương pháp dạy học của giáo viên chưa thật sự đổi mới. Trong hội giảng của trường hầu như giáo viên không tham gia hoặc đăng kí dạy môn Lịch sử. -Trang thiết bị cũng như băng hình, tài liệu về sử học còn hạn chế. Giáo viên ít đầu tư làm đồ dùng cho môn học mà học sinh chủ yếu được học chay. -Quan niệm về vị trí môn học của phụ huynh và học sinh còn sai lệch. -Nhà trường chưa tổ chức nhiều các hội thi hay hoạt động ngoài giờ lên lớp có kiến thức sử học. -Kiến thức về sử học của một số giáo viên còn hạn chế nên khi lên lớp không mở rộng cho học sinh thêm kiến thức có sẵn trong sách giáo khoa. -Vậy để giúp học sinh học tốt môn Lịch sử đòi hỏi trước hết giáo viên cần có kiến thức Lịch sử chuyên sâu. Thiết kế bài giảng sinh động và mới mẽ trong từng tiết dạy, sử dụng giáo án điện tử vào tiết dạy, luôn sưu tầm, cập nhật tài liệu, kiến thức Lịch sử thường xuyên qua thông tin đại chúng, trong tiết dạy phải biết phối hợp các phương pháp dạy học có hiệu quả. Ngoài ra, tôi luôn yêu cầu học sinh phối hợp giữa lí thuyết và thực hành. Trong dạy học môn học này, tôi sử dụng kết hợp linh hoạt các phương pháp và các hình thức dạy học, trong đó chú trọng phát huy năng lực chủ động sáng tạo nơi các em, ví dụ Ở bài 6 lịch sử 5 “Quyết chí ra đi tìm đường cứu nước”, nội dung của bài học này khá gần gủi với các em, tôi giao nhiệm vụ cho các em sưu tầm tư liệu về tiểu sử của Bác, trao đổi trình bày trong nhóm và trước lớp. Đây chính là cách giúp học sinh chủ động tiếp cận kiến thức thông qua sự dẫn dắt của giáo viên. Khi tiến hành hoạt động dạy học, tôi còn dựa trên trình độ thực tế của lớp mà lựa chọn phương pháp, hình thức tổ chức dạy học phù hợp nhất. Trong mỗi bài dạy tôi luôn xây dựng một hệ thống câu hỏi đi từ dễ đến khó. Qua đó, giúp tôi lựa chọn phương pháp đàm thoại, vấn đáp hay thảo luận nhóm, trao đổi…theo hình thức cá nhân, để giải quyết vấn đề được đặt ra. Giải pháp, biện pháp BẤM VÀO ĐÂY ĐỂ TẢI BẢN WORD Xem thêm sáng kiến kinh nghiệm khác
Làm sao để học môn lịch sử dễ nhớ các sự kiện, các con số là vấn đề của nhiều bạn học sinh. Hãy tham khảo những mẹo nhỏ là kinh nghiệm của những bạn học sinh giỏi môn Sử dưới đây để học tập nhé!Hướng dẫn một số cách học Môn Sử dễ nhớ nhất1. Hãy học lịch Sử vào thời gian thoải mái nhấtThời gian học cũng rất quan trọng. Môn Sử là một môn khó nhớ, nên hãy học vào những lúc tâm trạng thoải mái nhất. Đặc biệt, không nên học vào lúc tâm trạng không thoải mái, căng thẳng vì khi đó càng học càng đau đầu mà cũng không nhớ biết tận dụng thời gian để học một cách tối đa. Nếu bạn đã học thuộc bài đó rồi, hôm sau hãy xem qua bài cũ rồi mới học bài mới. Bạn có thể đọc to lên để học thuộc nếu cần, hoặc không chỉ lẩm nhẩm trong đầu cũng được. Tất nhiên là hãy sử dụng cách học nào theo bạn là hứng thú và giúp bạn dễ thuộc bài Cần đơn giản hóa những con sốĐể học tốt môn sử phải nắm được kiến thức cơ bản và các ý chính trong bài giảng của giáo viên trên nhận chương trình môn sử có nặng nội dung với nhiều số liệu và thiếu hình ảnh, nhưng các em học sinh đều cho biết, nếu thực sự nắm được các vấn đề trong bài và biết cách học thì ôn sử không quá khó. Ngoài sách giáo khoa, tìm hiểu thêm các tài liệu tham khảo, nhất là các mẩu chuyện lịch sử. Theo Thúy, cách học này vừa giúp kiến thức lịch sử của em thêm phong phú, vừa khiến cho môn sử sinh động hơn, dễ nhớ nhớ các mốc sự kiện, những số liệu nên gắn với những điều quen thuộc trong cuộc sống như ngày sinh nhật của người thân, bạn bè, ngày lễ Tết…3. Học lịch sử nên vạch ý chính theo sơ đồCùng với việc nhớ được các số liệu chuẩn xác thì nắm được kiến thức lịch sử một cách hệ thống cũng là thách thức với rất nhiều học sinh. Học sử cũng có công thức, tìm ý chính, sau đó tìm ra các ý nhỏ hơn, ví dụ cụ thể, chẳng hạn như học về sự kiện thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam thì phải hiểu các vấn đề liên quan như hoàn cảnh lịch sử, nguyên nhân để thành lập Đảng vào thời điểm đó mà không phải thời điểm khác, việc thành lập Đảng có vai trò, tác động gì đến các sự kiện tiếp theo…Học theo hệ thống luôn ghi nhớ các sự kiện, học theo các chủ đề xuyên suốt chiều dài lịch sử để so sánh giữa các thời kỳ. Để hiểu thêm về nội dung bài học, phát hiện và tìm cách giải quyết vấn đề, tự đặt câu hỏi và tìm ra câu trả lời để tạo được hứng thú khi học. Để nhớ sự kiện và mốc thời gian xảy ra sự kiện đó, nên lập bảng niên biểu ngắn gọn bao gồm một cột là mốc thời gian, một cột là tên sự kiện, làm như vậy các em sẽ ghi nhớ tốt một chiến dịch, cuộc khởi nghĩa nào các em nên học theo tiến trình chung. Mỗi bài học đọc kỹ một lần rồi làm sơ đồ tia. Ví dụ chiến tranh cục bộ sẽ bao gồm các nhánh chính là định nghĩa, âm mưu của địch, kế hoạch của ta, diễn biến, kết quả, ý nghĩa. Sau đó từ mỗi nhánh lại làm các tia nhỏ hơn. Việc học sơ đồ tia hiệu quả cao hơn rất nhiều so với việc học cả trang sách dài loằng ngoằng và một điều nữa là học bằng cách nhìn vào chính chữ mình bao giờ cũng dễ nhớ hơn là nhìn vào chữ mẹo nhỏ nữa là các em hãy gắn các tờ giấy ghi sự kiện lên chỗ nào mà mình hay nhìn thấy nhất tủ lạnh, cửa sổ, mặt bàn học để thường xuyên nhìn thấy nó, sẽ giúp ghi nhớ tự nhiên So sánh cách sự kiện với nhau để nhớ lâuHọc Lịch sử bằng cách so sánh các sự kiện với nhau cũng là cách để nhanh nhớ, nhớ lâu. Ví dụ khi học về giai đoạn lịch sử từ 1961- 1975, nên so sánh ba chiến lược chiến tranh theo tiến trình học tập chung học tập Lịch sử, không phải ai cũng có khả năng nhớ chi tiết các ngày tháng, con số. Do đó các em nên tập cho mình cách “nhớ tương đối”. Tức là trong sự kiện không nhất thiết phải nhớ ngày mà chỉ cần nhớ tháng, năm hoặc là vào nhớ năm và khoảng thời gian trong năm xảy ra sự kiện đó. Ví dụ cuối năm 1925, thu- đông năm 1947. Tuy nhiên những sự kiện lớn, quan trọng của tiến trình Lịch sử thì bắt buộc phải nhớ như các mốc thời gian mùng 2 tháng 9 năm 1945 hoặc 30 tháng 4 năm 1975…5. Phải biết xâu chuỗi các sự kiệnTuy nhiên các sự kiện đều có mối quan hệ xâu chuỗi với nhiều sự kiện khác. Nếu bạn tìm ra sự liên kết ấy, việc nhớ sẽ dễ hơn nhiều. Ví dụ từ sự kiện thành lập Đảng, trước đó là cả một sự chuẩn bị lâu dài, nó sẽ liên quan đến các sự kiện như ngày Bác ra đi tìm đường cứu nước, ngày thành lập Hội Việt Nam Cách Mạng thanh niên…Mỗi bài học đọc kỹ một lần rồi làm sơ đồ tia. Ví dụ chiến tranh cục bộ sẽ bao gồm các nhánh chính là định nghĩa, âm mưu của địch, kế hoạch của ta, diễn biến, kết quả, ý nghĩa. Sau đó từ mỗi nhánh lại làm các tia nhỏ ra, để dễ nhớ, các bạn nên lập bảng các sự kiện, trong đó có mốc thời gian, nội dung, kết quả, ý nghĩa cơ bản… Việc học sơ đồ tia hiệu quả cao hơn rất nhiều so với việc học cả trang sách dài loằng ngoằng và một điều nữa là học bằng cách nhìn vào chính chữ mình bao giờ cũng dễ nhớ hơn là nhìn vào chữ in. Và hãy nhớ là chỉ viết tóm tắt nội dung chính yếu nhất sau đó dán lên góc học tập hoặc những chỗ dễ thấy để lúc nào cũng có thể… liếc khi học, bạn ghi các mốc thời gian ra nhiều tờ giấy nhỏ khác nhau. Mỗi ngày bốc một tờ giấy ghi mốc thời gian rồi nêu sự kiện trong năm đó ra giấy hoặc đọc thuộc lòng, nếu chưa thuộc thì không nên học bài mới mà ôn lại ngay bài đó. Những mốc thời gian thường khó nhớ hơn là sự kiện vì dễ bị nhầm. Do đó bạn nên liên hệ đến những ngày tháng đặc biệt mà mình biết. Khi học đến sự kiện mới có ngày tháng hơi giống sự kiện cũ thì nên liên tưởng nhiên, không phải bất cứ mốc thời gian nào cũng phải nhớ, nên bỏ qua những sự kiện, chi tiết vụn vặt. Đừng tham quá nhiều chi tiết .Phần Lịch sử Việt NamChương trình thi là thời kỳ 1919 – 2000. Thời kì này sẽ được chia thành nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau và mỗi giai đoạn lịch sử sẽ có các sự kiện nổi bật. Chính vì vậy, các bạn nên học theo một cấu trúc chung cho tất cả các giai đoạn lịch sử như sau + Nội dung cơ bản của cách mạng Việt Nam là gì? + Nhiệm vụ cốt lõi của cách mạng Việt Nam ở giai đoạn này là gì? + Có những sự kiện tiêu biểu nào? Sự kiện nào tiêu biểu nhất ? Chiến thắng Điện Biên Phủ sự kiện nổi bật của cách mạng Việt Nam giai đoạn 1945-1954 Ví dụ Giai đoạn từ 1919 – 1930 Nội dung chính, nhiệm vụ chính của cách mạng Việt Nam cần phải giải quyết là quá trình đấu tranh để xác lập khuynh hướng cứu nước mới khi ngọn cờ phong kiến đã thất bại và khuynh hướng dân chủ tư sản đã lỗi thời. Kiến thức khởi đầu làm tiền đề cho nhiều vấn đề khác của giai đoạn này là chương trình khai thác thuộc địa lần thứ 2 của thực dân Pháp liên quan đến sự chuyển biến về kinh tế và sự phân hóa xã hội, phong trào yêu nước, phong trào công nhân, hoạt động cứu nước của lãnh tụ Nguyễn Ái kiện kết thúc cho giai đoạn này là việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam 2/1930 đánh dấu sự thắng thế hoàn toàn của khuynh hướng cứu nước vô sản và sự xác lập quyền lãnh đạo của giai cấp vô sản, là bước ngoặt lịch sử vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Tóm lại, vấn đề cốt lõi nhất của cách mạng Việt Nam giai đoạn này là quá trình chuẩn bị thành lập Đảng về tư tưởng chính trị và tổ chức. Phần lịch sử thế giớiCách học dễ nhớ nhất là ôn tập theo từng vấn đề trên cơ sở bài Tổng kết lịch sử thế giới hiện đại từ 1945 đến 2000. Để tránh sự nhầm lẫn về kiến thức và sự kiện, bạn nên lập biểu những sự kiện chính theo từng vấn đề và sơ đồ hoá kiến thức theo từng nội dung chủ yếu sẽ hiệu quả Làm bài thi môn Lịch sử cần lưu ý+ Để làm tốt bài thi môn Lịch sử, trước hết phải chăm chỉ học tập, nắm thật vững kiến thức, và đừng học theo kiểu cầu may.+ Khi trình bày bài chữ viết cần viết rõ ràng nhiều bạn chữ rất xấu, thậm chí là sai lỗi chính tả rất nhiều, bài viết sạch đẹp. Hình thức tuy không quyết định nội dung, nhưng cũng là rất cần với những môn khoa học xã hội.+ Khi làm bài, trước khi viết phần trả lời cho từng câu hỏi, nên viết ra giấy nháp những ý chính, ý nhỏ cho từng câu hỏi để đảm bảo đủ ý.+ Nên lựa chọn những câu hỏi dễ làm trước, khó làm sau; câu hỏi có nội dung cụ thể trước, tổng hợp sau.+ Với những câu hỏi tổng hợp, cần lựa chọn những nội dung tiêu biểu, sự kiện tiêu biểu và có tính khái quát cao, tránh sa đà vào mô tả chi tiết.+ Với những câu lựa chọn những sự kiện tiêu biểu, nên lựa chọn những sự kiện lớn có ảnh hưởng đến chung cuộc không nên lựa chọn những sự kiện nhỏ không mang tính tiêu biểu.STOriginally posted 2021-05-10 053850.
Tháng 8 năm 2022, Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam công bố "Chương trình giáo dục phổ thông môn lịch sử". Trong chương trình này, Bộ Giáo dục xác định sẽ dạy cho học sinh các kỹ năng "tư duy lịch sử" historical thinking skills và "tư duy phản biện" critical thinking skills. Tư duy lịch sử được Chương trình khung nói trên giải thích là “nhận diện được các loại hình tư liệu lịch sử”, “hiểu được nội dung, khai thác và sử dụng được tư liệu lịch sử trong quá trình học tập”, “tái hiện và trình bày được dưới hình thức nói hoặc viết về diễn trình của các sự kiện, nhân vật, quá trình lịch sử từ đơn giản đến phức tạp.” Quan niệm coi việc giáo dục lịch sử là giáo dục kĩ năng “tư duy lịch sử” là một điều mới ở Việt Nam ngày nay; nhưng không mới ở các nền giáo dục tiên tiến trên thế giới. Việc Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam đưa ra yêu cầu khá chi tiết đối với việc giáo dục “tư duy lịch sử” cho học sinh trong "Chương trình giáo dục phổ thông môn lịch sử" công bố tháng 8 năm 2022 có thể được coi là một bước tiến bộ hay không? RFA trao đổi với một số chuyên gia quốc tế về vấn đề này. Cuộc chiến chống Trung Quốc xâm lược năm 1979 được viết sơ sài trong Sách giáo khoa lớp 12. Ảnh Đại học Quốc gia Hà Nội Vì sao “tư duy lịch sử” lại quan trọng? Trong một bài viết bằng tiếng Anh gửi cho RFA để chia sẻ về những trải nghiệm cá nhân đối với việc học sử ở Hoa Kỳ thời kì trung học, Tiến sỹ Nu-Anh Tran, một Giáo sư sử học ở Đại học Connecticut, cho biết trong chương trình Tú tài Quốc tế International Baccalaureate - IB mà bà được học hồi nhỏ ở bang Washington, bà và bạn học đã được thực hành tranh luận với nhau về cách diễn giải quá khứ. Dưới đây là một trích đoạn trong bài được RFA dịch sang tiếng Việt. “Cuộc tranh luận về lịch sử đầu tiên mà tôi từng đọc thời trung học là một loạt bài viết về nguyên nhân của Cách mạng Nga, và các tác giả thực sự không đồng ý với nhau. Đọc những bài báo đó, tôi nhận ra rằng lịch sử không chỉ là về những sự thật và sự kiện về những gì đã xảy ra trong quá khứ, mà còn là cách chúng ta giải thích và diễn giải những sự kiện đó, cũng như tầm quan trọng của những sự thật đó. Các nhà sử học không phải là tác giả sách giáo khoa thông thạo mọi thứ, mà là những nhà tư tưởng tìm kiếm và vật lộn với bằng chứng, để đưa ra những lập luận cạnh tranh với nhau về cách hiểu quá khứ.” Giáo sư Olga Dror, một chuyên gia về lịch sử Việt Nam ở Đại học Texas A&M, giải thích với RFA vì sao trên thế giới người ta lại quan niệm về giáo dục lịch sử như vậy. Theo Giáo sư Olga, sử học không phải là một khoa học chính xác như các môn khoa học tự nhiên hay một số môn khoa học nghiên cứu về xã hội như kinh tế học, xã hội học. Đó là một môn học có tính “chủ quan”. Khi nhìn về quá khứ, chúng ta không có “quá khứ” mà chỉ có “tư liệu về quá khứ”. Chúng ta phải nghiên cứu các tư liệu này và diễn giải chúng để tạo ra nhận thức về lịch sử. Vì vậy, mỗi người với những tư liệu khác nhau, cách phân tích tư liệu khác nhau, sẽ cho ra những nhận thức khác nhau về quá khứ. Chính vì lí do này, bản thân việc “nghiên cứu tư liệu lịch sử” và “diễn giải tư liệu lịch sử”, tức là “kĩ năng tư duy lịch sử”, trở nên vô cùng quan trọng. Vẫn chưa đi ra khỏi vòng kim cô? Trao đổi với RFA, Giáo sư Vũ Tường, Trưởng khoa Chính trị học, Đại học Oregon, cho rằng chúng ta phải xem cách Bộ Giáo dục hay tác giả các bộ sách giáo khoa cụ thể hóa chương trình khung này thì mới đánh giá được. Giáo sư nói “Việc nhấn mạnh vào các kĩ năng tư duy này là rất tốt, là cái mới. Nếu họ thực sự làm được thì rất tốt. Nếu họ cho phép tư duy lịch sử, tư duy hệ thống, tư duy phản biện phát triển đúng theo cách hiểu khoa học của những khái niệm này thì rất là hay. Miễn là họ đừng bóp méo nó đi, kiểu như “tư duy phản biện” thì chỉ phê phán Mỹ chứ không được phê phán Việt Nam, hay “phản biện” thì chỉ phản biện những quan điểm lịch sử trái với Nhà nước thôi, chứ không phải là phản biện quan điểm Nhà nước.” Thành ra khái niệm mà Chương trình khung đưa ra thì hay, nhưng nội dung thực thế như thế nào, cách vận dụng ra sao, thì còn phải xem xét thêm. Đi vào chi tiết của Chương trình khung nói trên, Giáo sư Vũ Tường chỉ ra rằng, ở Mục số II, “Quan điểm xây dựng chương trình”, Chương trình Khung này đưa ra năm nội dung là “Khoa học, hiện đại”, “hệ thống, cơ bản”, “thực hành, thực tiễn”, “dân tộc, nhân văn”, “mở, liên thông”. Theo Giáo sư, nội dung đầu tiên của quan điểm “Khoa học, hiện đại”, là “quán triệt quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước Việt Nam” thì hỏng rồi, vì một tổ chức chính trị dù lớn đến mấy cũng không hiển nhiên đại diện cho tính “khoa học, hiện đại”, mà ngược lại, tổ chức đó có nhiệm vụ phải cố gắng đạt được tính “khoa học, hiện đại”. “Mục tiêu hướng dẫn cho học sinh tự tìm hiểu, khám phá lịch sử theo nguyên tắc “khoa học lịch sử”, qua đó phát triển “tư duy lịch sử”, “tư duy phản biện” chỉ nằm ở vị trí thứ 3. Vì nằm ở vị trí thứ yếu, nó phải được hiểu là phát triển tư duy lịch sử sao cho quán triệt quan điểm của Đảng. Ví dụ, hướng dẫn cho học sinh tự tìm hiểu, khám phá lịch sử thì có thể hiểu là đi thăm quê hương cụ Trần Phú, viếng mộ mẹ Chủ tịch Hồ Chí Minh. Mục “thực hành, thực tiễn” nói đến một số kĩ thuật giáo dục mới, như thay vì học tại lớp thì học tại thực địa, như tại các bảo tàng, di sản. Nhưng ở Việt Nam, hệ thống các bảo tàng, di sản được được thiết kế cẩn thận thành một mạng lưới phục vụ nhu cầu chính trị của Đảng cầm quyền, trong khi đó nội dung thực tế của sự thật lịch sử cần khám phá thì rộng lớn hơn thế rất nhiều. Các nội dung về tính “dân tộc, nhân văn” thì tôi nghĩ sẽ không có gì mới so với cách dạy cũ, vì khái niệm “dân tộc, nhân văn” ở Việt Nam cũng được chính trị hóa, kiểu như yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội chẳng hạn.” Ở phần III, Mục tiêu Chương trình, chương trình khung này có đặt ra yêu cầu giúp học sinh “nhận diện các loại hình tư liệu lịch sử”. Giáo sư Vũ Tường cho rằng điều này rất hay, nhưng chúng ta phải xem tư liệu lịch sử nào là tư liệu học sinh trong thực tế được phép tiếp cận và phân tích, thảo luận cởi mở, tư liệu nào bị cấm, coi như không tồn tại. “Về mục tiêu dạy cho học sinh kĩ năng phân tích các quá trình lịch sử thì lâu nay lịch sử chính thống vẫn dùng cách “cưỡng ép lịch sử,” tức là loại trừ tư liệu này, nhấn mạnh tư liệu kia. Chúng ta phải xem cách nhà giáo dạy học sinh cách đánh giá tư liệu nữa. Trong mỗi giai đoạn, sự kiện, nhân vật, có tư liệu thứ yếu và tư liệu chủ yếu. Tất cả đều phải được xem xét chứ không phải loại trừ những tư liệu quan trọng, coi như chúng không tồn tại, trong khi đó lại nhấn mạnh những tư liệu thứ yếu. Nói chung có nhiều vấn đề phải xem xét ở đây.” Tư duy lịch sử đa chiều và đa nguyên Theo Giáo sư Vũ Tường, ở đây vấn đề cốt lõi không chỉ là giáo dục “tư duy lịch sử” cho học sinh mà là “tư duy lịch sử đa chiều và đa nguyên”. Ông giải thích, trong chính trị, đại khái, chủ nghĩa đa nguyên chủ trương là tất cả các bên, các thành phần chính trị xã hội khác nhau đều được tham gia vào quá trình thảo luận của Nhà nước để ra một quyết định nào đó. Không có nhóm nào bị loại bỏ, dù họ nhỏ bé đến mấy đi nữa. Người ra đặt ra yêu cầu như vậy vì thực tế chính trị xã hội rất đa dạng, chứ không ở đâu và khi nào lại có một lực lượng duy nhất là có ý nghĩa, còn các nhóm khác “đáng” bị loại bỏ cả. Các quá trình lịch sử trong quá khứ cũng tương tự như vậy. Có rất nhiều biến số, nhiều lực lượng, nhiều nhóm hiện diện trong mỗi giai đoạn lịch sử, với những động lực khác nhau. Trong quá khứ, họ có thể hợp tác hay va chạm với nhau tùy thời điểm, và những gì họ để lại đều là tư liệu lịch sử. Do đó thường thì có nhiều tư liệu lịch sử của nhiều bên khác nhau cùng liên quan đến một sự kiện lịch sử, một quá trình lịch sử. “Tư duy lịch sử đa chiều” là chúng ta khảo sát và phân tích tư liệu của tất cả các chiều, chứ không sử dụng một nguồn tư liệu duy nhất và loại bỏ các nguồn tư liệu đến từ các chiều nhìn, góc nhìn khác. Độc tôn một nguồn tư liệu thì chỉ tạo ra một bức tranh lịch sử phiến diện. “Tư duy lịch sử đa chiều và đa nguyên” do đó rất cần thiết để hiểu một quá trình lịch sử nào đó trong quá khứ một cách toàn diện và đúng đắn. Chính vì sự đa dạng này của đời sống chính trị xã hội, mỗi nhóm xã hội sẽ có một nguồn tư liệu lịch sử khác nhau, do đó nhìn lịch sử cũng khác nhau. Giáo sư Vũ Tường lấy ví dụ, cùng một sự kiện, một quá trình lịch sử, Đảng Cộng sản Việt Nam nhìn lịch sử theo kiểu này, nhưng Việt Nam Quốc Dân Đảng nhìn lịch sử theo kiểu khác. Người Việt trong nước nhìn thế này, người Việt hải ngoại nhìn thế khác. Cùng là nhìn lại một cuộc chiến, nam giới có thể nhìn lịch sử kiểu này, phụ nữ có thể nhìn kiểu khác, những “anh hùng” của cuộc chiến đó có thể nhìn lại theo kiểu này, còn những người dân có số phận nhỏ bé, bình thường thì nhìn kiểu khác. Cái nhìn lịch sử đa chiều, đa nguyên là sử dụng, tham chiếu, khảo sát tất cả các góc nhìn đó cũng như những tư liệu lịch sử mà tất cả các bên lưu giữ. Trong Chương trình khung nói trên của Bộ Giáo dục, Giáo sư Vũ Tường chỉ ra là Bộ Giáo dục nói là sẽ dạy học sinh kĩ năng tái hiện các sự kiện, quá trình lịch sử từ đơn giản đến phức tạp. Ta có thể lấy ví dụ như một vụ nổ bom sự kiện đơn giản, hay sự ra đời của một nhà nước hay cả cuộc chiến tranh Lạnh quá trình lịch sử phức tạp. Họ không nói đến tính đa chiều, đa nguyên của tư duy lịch sử. Thành ra những gì Chương trình khung nói là đúng, nhưng không đầy đủ. Cái thiếu sót là một tư duy lịch sử “đa chiều” chấp nhận sự đối thoại sử học dựa trên các tư liệu lịch sử “chính thống” hay “phi chính thống”. Tư liệu lịch sử chính thống là tư liệu cho các nhà nước sưu tập, lưu giữ, công bố. Nhà nước nào, thời nào, ở đâu cũng có những bộ tư liệu chính thống như vậy. Ví dụ thời phong kiến, “Đại Việt Sử kí Toàn thư” là tư liệu chính thống, còn “Lĩnh Nam chích quái” là phi chính thống. Còn đối với lịch sử thế kỉ 20 ở Việt Nam, ví dụ, các bộ Văn kiện Đảng là tư liệu chính thống, còn lời kể của những số phận nhỏ bé đã phải kinh qua chiến tranh là tư liệu phi chính thống. Quan điểm lịch sử hiện đại là chấp nhận những nguồn tư liệu phi chính thống, tư liệu của những người không thuộc tầng lớp tinh hoa, những người không có điều kiện và phương tiện để cất lên tiếng nói của họ. Tư duy lịch sử đa chiều không đánh giá về giá trị của tư liệu lịch sử bằng cách dựa vào “vị thế” chính thống hay phi chính thống của nó, vì “vị thế” này sẽ thay đổi theo thời đại chứ không tồn tại vĩnh viễn, mà là khảo sát tính xác thực của nó, giá trị của nó trong việc tìm hiểu quá khứ. Dựa trên những bằng chứng khác nhau mà mỗi bên đưa ra, và thừa nhận rằng quan điểm của mỗi bên, dựa trên tư liệu của mỗi bên, chỉ là một phần của bức tranh lịch sử và cần bổ sung cho nhau. Các bên khác nhau liên quan đến một quá trình lịch sử nào đó có những vị trí, thế đứng, tư liệu khác nhau. Những điều này cần bổ sung được cho nhau để có được cái nhìn đầy đủ về lịch sử. GS Vũ Tường lấy ví dụ thời Trần, có “Đại Việt Sử kí Toàn thư” của Việt Nam, có “Nguyên sử” của nhà Nguyên, có “An Nam chí lược” của Trần Ích Tắc… Mỗi nguồn tư liệu đều đến từ các lực lượng chính trị khác nhau, có góc nhìn khác nhau. Hoặc đối với chiến tranh Việt Nam thế kỉ 20, tư liệu lịch sử đến từ “Oral History”, tức là “Lịch sử nói”, ghi lại cuộc đời, số phận của những con người “nhỏ bé” sẽ cung cấp cho người nghiên cứu sử một phần khác của lịch sử, bổ sung cho bức tranh lịch sử của những nhân vật lịch sử “lớn”. Đối với chiến tranh Việt Nam, trước đây giới sử gia quốc tế hầu như chỉ quan tâm đến tư liệu từ phía Bắc Việt. Nhưng sau khi chiến tranh Lạnh kết thúc, người ta thoát khỏi sự chi phối của tinh thần chiến tranh Lạnh, người ta bắt đầu nghiên cứu về hệ thống tư liệu do phía Việt Nam Cộng Hòa để lại. Và từ những tư liệu này, một phần khác của bức tranh lịch sử, bao gồm lịch sử kinh tế, lịch sử chính trị, lịch sử văn hóa, giáo dục, báo chí, tinh thần… được tái hiện để soi chiếu với bức tranh trước đây, vốn chỉ tập trung vào lịch sử quân sự. Các góc nhìn khác nhau này sẽ giúp nhận thức lịch sử toàn diện hơn. Nhưng vấn đề là phải học các kĩ năng tư duy lịch sử để phân tích được các tư liệu đó, và học được tinh thần chấp nhận các tư liệu lịch sử phi chính thống, có thể đem đến những ánh sáng mới, khác với cách nhìn chính thống, thậm chí xung đột với cách nhìn chính thống. Do đó, Giáo sư Vũ Tường cho rằng “Ở bất kì thời nào, phía chính thống luôn có nhiều nguồn lực và phương tiện để xây dựng hệ thống tư liệu và quan điểm lịch sử chính thống một cách hệ thống. Phản biện hệ thống quan điểm này không dễ. Giáo dục tư duy lịch sử phải chấp nhận khả năng sinh viên hay học sinh tìm ra các tư liệu có khả năng đối thoại với hệ thống đó. Đó là những gì diễn ra trong lịch sử giáo dục hiện đại trên thế giới. Thậm chí ở các nền giáo dục tiên tiến ngày nay, người ta làm điều đó dễ hơn nữa vì thực ra họ không đặt ra một quan điểm chính thống về lịch sử.” Triết lý giảng dạy và phương pháp giảng dạy lịch sử như trên tác động rất lớn đến sự hứng thú học tập lịch sử của học sinh. Ở Việt Nam, nhiều năm nay, người ta lên tiếng báo động về việc học sinh không thích học sử. Giáo sư Olga Dror chia sẻ với RFA rằng việc học sinh sinh viên không thích theo đuổi môn sử là khá phổ biến trên thế giới, bởi một trong những lí do chủ yếu là môn sử khó giúp cho người học dễ dàng tìm kiếm việc làm trong tương lai như các ngành học khác. Nước Mỹ cũng không phải là ngoại lệ, trừ ngành sử ở những trường đại học thuộc nhóm “tinh hoa”. Nhưng ở Mỹ, theo GS. Olga, học sinh sinh viên được huấn luyện kĩ năng tư duy lịch sử để phát triển tính sáng tạo. Điều này giúp cho việc học sử của họ trở nên thú vị. Theo Giáo sư Olga Dror, điều quan trọng nhất của việc giáo dục kĩ năng tư duy lịch sử cho học sinh, sinh viên là xây dựng khả năng sáng tạo của họ. Quá trình nghiên cứu và diễn giải tư liệu lịch sử, theo bà, giống như là một phương trình của sự sáng tạo. Khảo sát về "Chương trình giáo dục phổ thông môn lịch sử" của Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam, bà nhận thấy nó chưa thực sự hướng đến mục tiêu ấy. Vốn sinh ra và lớn lên ở Liên Xô và sau đó du học Israel và Hoa Kỳ, GS Olga nhận xét rằng học sinh, sinh viên Hoa Kỳ “đang làm tốt hơn bởi vì họ được học cách diễn giải tư liệu lịch sử. Lịch sử thực sự là một công cụ tuyệt vời để thực hành kĩ năng xử lý, phân tích, giải thích và phát triển dữ liệu lịch sử.”
hướng dẫn học sinh tự học môn lịch sử